IV. Kinh nghiệm giám sát thi công

Phần IV: Kinh nghiệm giám sát thi công

– Khi xây nhà,chủ nhà không nên trực tiếp giám sát công trình (trừ trường hợp bạn là kỹ sư xây dựng). Vì thông thường do thiếu kinh nghiệm về xây dựng, bạn sẽ không nhận biết được những lỗi kỹ thuật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình.

– Mặt khác, do không hiểu rõ về nguyên vật liệu phù hợp tại từng thời điểm, lại thiếu kinh nghiệm chuyên môn để đánh giá nên thường xảy ra những trường hợp phát sinh chi phí ngoài ý muốn.

– Các thắc mắc, nghi ngại của chủ nhà nên được trao đổi thông qua tư vấn, giám sát công trình để có sự giải thích đầy đủ và nếu hợp lý sẽ được điều chỉnh dưới góc độ kỹ thuật để đảm bảo chất lượng và mỹ quan công trình.

Chủ nhà có thể là người giám sát công trình, hoặc nhờ người thân đảm nhận việc giám sát nếu có chuyên môn và thật sự am hiểu về xây dựng. Nếu không có chuyên môn thì tốt nhất bạn nên thuê một công ty tư vấn giám sát hoặc kỹ sư có chứng chỉ hành nghề giám sát theo quy định của pháp luật:

– Tư vấn giám sát sẽ tư vấn cho bạn những ý kiến chuyên môn, sẽ giúp bạn kiểm soát quá trình thi công của nhà thầu để đảm bảo quá trình thi công luôn đúng yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật, an toàn lao động cũng như tiến độ thi công.

– Quản lý quá trình thi công của nhà thầu, để bạn có được một ngôi nhà hoàn hảo như mong muốn.

– Phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà thầu trong trường hợp bạn thuê nhiều nhà thầu thi công để thi công nhà bạn (nhà thầu xây dựng, điện, nước, nội thất…), điều này không hề dễ dàng đối với người không có chuyên môn. Nhiều người tự mình giám sát và kết quả là quá trình thi công của các nhà thầu chồng chéo lẫn nhau, ảnh hưởng đến chất lượng công trình cũng như tiến độ thi công.

– Công tác đào đất.

– Công tác gia cố nền đất (nếu có).

– Công tác định vị tim trục, cao độ.

– Công tác lắp dựng ván khuôn.

– Công tác lắp dựng cốt thép.

– Công tác lắp đặt các hệ thống kỹ thuật của công trình ngầm (nếu có).

– Công tác đổ, bảo dưỡng bê tông.

– Công tác tháo ván khuôn.

– Công tác đắp đất.

Kinh nghiệm chia sẻ:

– Khi thi công phần móng, phần ngầm thường hay quên lắp đặt các hệ thống kỹ thuật cần đi ngầm của các phần bên trên (ví dụ các ống thoát nước sinh hoạt, thoát nước mưa…) nên công tác giám sát cần đọc kỹ toàn bộ hồ sơ thiết kế để nhắc nhở cho đơn vị thi công.

Đối với phần móng, phần ngầm thì công tác định vị tim trục, cote đóng vai trò cực kỳ quan trọng vì nó liên quan đến định vị của cả công trình và rất khó để sửa chữa nếu có sai sót. 

– Các kích thước cơ bản của nhà thường tạo nên một mạng lưới trục định vị xác định vị trí các kết cấu chịu lực (tường chịu lực hay cột chịu lực) của công trình gọi là hệ trục định vị.

– Nếu trục định vị sai tức là vị trí các kết cấu chịu lực sai sẽ ảnh hưởng đến khả năng chịu lực của kết cấu công trình, kích thước, vị trí của công trình và điều quan trọng là một khi đã sai thì rất khó để sửa chữa. Do đó cần kiểm tra giám sát thật kỹ vấn đề tim trục của các cấu kiện trước khi đổ bê tông, đặc biệt là phần móng (phần đầu tiên).

Kinh nghiệm chia sẻ:

Kinh nghiệm cho thấy tư vấn thiết kế thường thiết kế nhà dựa trên “Sổ  đỏ” được cung cấp bởi chủ nhà để thiết kế nhưng các kích thước của khu đất trên thực tế thường có sự khác nhau so với kích thước trong “Sổ đỏ”. Có nhiều trường hợp sự sai khác là khá lớn nên công tác kiểm tra lại các cọc mốc và lưới khống chế trên thực địa là rất quan trọng, giúp chủ nhà và tư vấn thiết kế có những sự điều chỉnh kịp thời (nếu cần thiết).

Đó là việc ước định thời gian bắt đầu, thời gian hoàn thành các công việc và bố trí sắp xếp các công việc đó một cách khoa học nhất để hoàn thành công trình như mong muốn; đi kèm với đó là các điều kiện cần về nguyên vật liệu, thiết bị và nhân lực để hoàn thành công việc đó theo thời gian mong muốn và kể cả khả năng về tài chính.

– Khi tiến hành xây nhà thường thì thời gian hoàn thành ngôi nhà vượt quá thời gian dự kiến với nhiều lý do khác nhau. Điều này gây ra nhiều khó khăn, phiền toái cho gia đình chủ nhà, đặc biệt là các trường hợp đang cần nhà gấp để ở và sinh hoạt. Do đó cần tiến hành bàn bạc, xây dựng tiến độ thi công khi bắt đầu xây nhà với nhà thầu, càng chi tiết càng tốt.

– Việc hoàn thành ngôi nhà đúng thời gian mong muốn sẽ giúp bạn tiết kiệm được nhiều công sức, tiền bạc.

– Nắm bắt tổng thể các công việc của quá trình xây nhà với những mốc thời gian đi kèm. Từ đó, giúp bạn chủ động hơn trong việc lên kế hoạch mua vật tư, vật liệu, thiết bị, nhân lực cũng như chủ động với kế hoạch tài chính.

– Chủ động trong mọi việc và có thể dễ dàng tìm ra phương án để lấy lại tiến độ trong trường hợp bạn đang chậm tiến độ.

– Kiểm tra chủng loại và đường kính cốt thép cho phù hợp với yêu cầu thiết kế.

– Kiểm tra hình dáng, kích thước các sản phẩm cốt thép sau khi gia công. Kiểm tra vị trí, chất lượng các mối buộc.

– Kiểm tra kích thước của cốt thép, số lượng và khoảng cách giữa các lớp cốt thép, kiểm tra chất lượng mối nối.

– Chiều dày lớp bảo vệ cốt thép (khoảng cách giữa cốt thép và ván khuôn). Vị trí các chi tiết chôn sẵn và các thép chờ.

– Dùng nhầm đường kính và mác thép.

– Chiều dày lớp bê tông bảo vệ không đảm bảo.

– Cốt thép đặt không đúng vị trí: thanh thép bị xê dịch; khoảng cách các thanh thép không đúng; khoảng cách cốt đai không đúng thiết kế, không thẳng góc với cốt dọc.

– Cốt thép bị hoen gỉ.

– Cốt thép sau khi gia công phải được bảo vệ cẩn thận để khỏi bị cong vênh, biến dạng so với yêu cầu thiết kế, không bị hoen gỉ. Muốn vậy sau khi gia công, cốt thép phải được xếp theo từng loại riêng biệt để tiện sử dụng và phải được kê cao ít nhất là 30 cm so với mặt nền kho; . không cao quá 1,2 m và rộng quá 02 m, không được xếp lẫn lộn giữa loại thép gỉ và thép không bị gỉ. Cốt thép phải được che mưa nắng (để trong nhà có mái che hoặc đậy bằng bạt ni lông). Trường hợp phải để ngoài trời thì thép phải kê một đầu cao một đầu thấp, dễ thoát nước, không xếp trực tiếp lên nền đất.

– Đối với kết cấu bê tông cốt thép, lực dính giữa bê tông và cốt thép là yếu tố cơ bản để bê tông và cốt thép cùng làm việc ,vì vậy, người ta phải tiến hành cạo gỉ khi thép bị gỉ trong quá trình thi công.

+ Kiểm tra từng khe hở của từng tấm ván khuôn, kẽ hở giữa các tấm ghép với nhau thành từng mảng.

+ Kiểm tra từng khe hở của từng tấm ván khuôn, kẽ hở giữa các tấm ghép với nhau thành từng mảng.

+ Kiểm tra kích thước mặt trong theo bản vẽ thiết kế. Kiểm tra mặt phẳng của ván khuôn.

+ Kiểm tra khoảng cách giữa mặt ván khuôn và cốt thép.

+ Kiểm tra độ vững chắc và độ ổn định của hệ thống chống đỡ ván khuôn.

+ Kiểm tra hệ thống giàn giáo thi công đảm bảo kỹ thuật, an toàn lao động, trình tự thi công, dễ dàng thuận tiện.

Sai phạm thường gặp:

+ Ván khuôn gia công và lắp đặt không đúng tim, cao độ và vị trí. Sai phạm này sẽ ảnh hưởng đến công tác cốt thép, làm sai lệch chi tiết đặt sẵn gây khó khăn cho những công việc tiếp theo.

+ Ván khuôn không đảm bảo hình dạng, kích thước. Sai phạm này làm ảnh hưởng đến khả năng chịu lực cũng như chất lượng thẩm mỹ của công trình (yêu cầu mỹ quan).

Nguyên nhân:

+ Xác định không đúng tim trục, cao độ;

+ Gia công ván khuôn không đúng bản vẽ thiết kế về hình dáng, kích thước; Ván khuôn bị xô lệch, biến dạng trong quá trình thi công;

+ Hệ thống cây chống, văng chống không chắc chắn làm cho ván khuôn dễ bị biến dạng khi đầm bê tông.

Ván khuôn, đà giáo chỉ được tháo khi có kết quả thí nghiệm bê tông đạt cường độ cần thiết để kết cấu chịu được trọng lượng bản thân và các tải trọng động khác trong giai đoạn thi công xong. Khi tháo dỡ ván khuôn,  đà giáo cần chú ý tránh không gây va chạm đột ngột hoặc va chạm mạnh làm hư hại đến kết cấu bê tông.

– Các bộ phận cốp pha, giàn giáo không còn chịu lực sau khi bê tông đã đóng rắn (cốp pha thành dầm, tường, cột) có thể được tháo dỡ khi bê tông đạt cường độ trên 50% daN/cm2.

– Đối với ô văng, lanh tô, sê nô, consol chỉ được tháo cột chống, ván khuôn đáy khi cường độ bê tông đạt đủ mác thiết kế và đã có đối trọng chống lật.

– Đối với ván khuôn đà giáo chịu lực của các kết cấu đáy dầm, sàn, cột chống tuân theo qui phạm qui định và được sự thống nhất của chủ đầu tư và tư vấn giám sát mới được tháo dỡ ván khuôn, đà giáo. Nếu không có các chỉ dẫn đặc biệt của thiết kế thì được tháo dỡ khi bê tông đạt cường độ là 50% (07 ngày) với  bản dầm, vòm có  khẩu độ nhỏ hơn 02 m; đạt cường độ  70% (10 ngày) với bản, dầm, vòm  có khẩu độ từ 02 m – 08 m; đạt cường độ 90% với bản dầm, vòm có khẩu độ lớn hơn 08 m.

– Đối với các kết cấu có khẩu độ lớn, nhà thầu có biện pháp tháo dỡ cụ thể để đảm bảo an toàn cho công trình và người thi công.

– Đối với ván khuôn đà giáo của sàn nhà nhiều tầng toàn khối thực hiện như sau:

+ Giữ lại toàn bộ đà giáo và cột chống ở tấm sàn nằm kề dưới tấm sàn chuẩn bị đổ bê tông.

+ Tháo dỡ từng bộ  phận cột chống cốp pha của tấm sàn dưới nữa  và giữ lại cột chống “an toàn” cách nhau 03 m dưới các dầm có nhịp lớn hơn 04 m.

Kinh nghiệm chia sẻ:

Đặc biệt chú ý đến vấn đề an toàn lao động khi tiến hành tháo ván khuôn, tháo đến đâu thu dọn, xếp gọn đến đó.

+ Mặt trát, láng không được có vết nứt nhỏ do hiện tượng co ngót vữa sinh ra.

+ Gõ nhẹ lên mặt trát, láng không được có tiếng bộp chứng tỏ lớp vữa bị bong, không bám dính mặt nền, chỗ bộp phải tháo bỏ để làm lại.

+ Mặt trát phải phẳng, nhẵn, không có vết lồi, lõm cục bộ.

+ Gờ chỉ, cạnh phải đều về chiều dày, thẳng hàng liền dãy, sắc nét.

+ Mặt láng phải đảm bảo độ dốc theo yêu cầu thiết kế. Nếu thiết kế không chỉ rõ thì độ dốc phải đổ ra lối thoát, để trường hợp có nước thì nước không chảy vào trong phòng hoặc gây đọng ứ.

+ Cần dùng mắt thường kiểm tra tổng thể. Khi có nghi ngờ, dùng dụng cụ như thước tầm, dây căng, quả dọi, máy kinh vĩ, máy thủy bình để kiểm tra lại. Kiểm tra hướng dốc có thể dùng viên bi sắt.

– Độ lệch vị trí không quá 01 mm so với vị trí thiết kế.

– Sai lệch vị trí trục các chi tiết đứng riêng biệt không quá 10 mm.

– Những chi tiết của một hình phải cùng nằm trên một mặt phẳng. Những hình cùng tạo nên mặt phẳng nhiều hình phải nằm trong cùng một mặt phẳng. Sai lệch độ cao giữa các hình trong một bộ nhiều hình không quá 0,5 mm.

-Mạch ghép phải kín khít để không thể nhận biết được vị trí đã ghép.

-Hoa văn đúng theo thiết kế, hình hoa văn không được sứt, mẻ, gãy. Thanh hoặc tấm bị sứt, mẻ, gãy phải thay thế. Không được gắn sửa bằng mát tít.

– Việc tạo màu sắc được tiến hành bằng chổi sơn mềm hoặc phun màu. Màu sắc phải đúng thiết kế và đồng đều theo qui định.

– Nhìn bằng mắt quanh mép ô kính để có thể nhận biết được kích thước rãnh lắp kính đã thi công đúng thiết kế. Kính phải được đặt êm trong rãnh, khít, chặt, có nẹp, đệm ngay ngắn. Lấy tay ấn nhẹ những chỗ nghi ngờ để kiểm tra độ chặt, độ khít.

– Chất lượng mạch gắn mát tít phẳng, nhẵn, mịn mặt, không có vết nứt, vết long khỏi kính và không có khe hở. Mạch gắn mát tít phải đặc, không có khuyết tật.

– Đường viền ráp của mạch mát tít tiếp giáp với kính phải phẳng, song song với gờ rãnh. Trên mặt kính giáp mạch gắn không có phoi mát tít vụn long lở.

– Mũ đinh vít, đinh ghim đóng sát mặt kính và được mát tít che phủ kín, không nhô ra ngoài mạch mát tít. Đinh vít phải được vặn chặt, không chấp nhận ren neo giữ bị cháy. Nẹp cao su hay chất dẻo phải ép sát với kính và liên kết chặt vào gờ của khung cửa.

– Mặt kính phải nguyên lành, không có vết rạn, nứt hay các khuyết tật khác.

– Trên kết cấu cũng như trên mặt kính sau khi làm sạch không có vết dính sơn, vôi, vữa, bùn, bẩn hay vết dầu mỡ.

– Bề mặt lớp sơn, vôi và véc ni phải đồng màu, không có vết ố, vết loang lổ, vết chổi sơn.

– Bề mặt phải phẳng, nhẵn, không bị nứt hay cộm sơn hoặc vết cháy véc ni. Mặt lớp sơn và véc ni phải bóng.

– Không để lộ màu của lớp sơn, vôi, véc ni nằm dưới lớp phủ trên cùng.

– Bề mặt lớp sơn không được có bọt bong bóng khí. Không được có hạt bột sơn vón cục, có vết rạn nứt bề mặt lớp sơn.

– Nếu mặt sơn có hoa văn, hoa văn phải theo đúng thiết kế về hình dạng, kích thước, độ đồng đều và nhất là màu sắc.

Nhân văn – Chuyên nghiệp – Phát triển bền vững

(+84) 234 3751 703

Websales Facebook Đồng Lâm Kênh youtube Đồng Lâm Alibaba Đồng Lâm